Chuẩn kiến thức kỹ năng có cần thiết?

Ngày cập nhật : 25/03/2020

Gần 10 năm qua, ngành Giáo dục thực hiện Chuẩn kiến thức kỹ năng (CKTKN) ở tất cả bộ môn và các bậc học tuy nhiên giáo viên đứng lớp vẫn đặt ra nhiều câu hỏi, chẳng hạn như: Có nên áp dụng những CKTKN trong từng môn học.

“Khuôn sáo”?

Hiểu một cách đơn giản, CKTKN là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kỹ năng của đơn vị kiến thức mà học sinh cần phải và có thể đạt được theo từng bài học phù hợp với đặc trưng của bộ môn ở các lớp, các bậc học. Mục đích ban hành CKTKN nhìn chung là bảo đảm việc chỉ đạo dạy học, kiểm tra, đánh giá theo chuẩn, tạo nên sự thống nhất trong cả nước, góp phần khắc phục tình trạng quá tải trong giảng dạy, học tập. 

Áp dụng CKTKN còn giảm thiểu tình trạng dạy thêm, học thêm. Hiểu là như thế, nhưng khi đưa vào áp dụng lại không hẳn như vậy. Nguyên do là vì tư duy, cách làm của các nhà quản lý, GV hoàn toàn khác nhau ở mỗi đơn vị trường học, địa phương. Chính vì sự khác nhau đó mà CKTKN đôi khi trở thành pháp lệnh “khuôn sáo”, “hàng rào”, “đường biên giới” mà GV đứng lớp không thể và không dám bước qua. Và nó đã vô hình tạo thành sợi dây trói buộc ý tưởng sáng tạo của nhiều GV.

Những hệ lụy

Giáo dục là một quá trình sáng tạo không ngừng nghỉ của cả người dạy và người học, muốn cho giáo dục có hiệu quả, người học phải sáng tạo. Nhưng người học muốn sáng tạo được thì trước hết người dạy phải sáng tạo. Tại nhiều cơ sở giáo dục, người dạy không dám “vượt” chuẩn, để sáng tạo truyền đạt cho HS. Bởi khi họ dạy vượt rào thì thường bị người quản lý đánh giá là không đúng, không phù hợp với chuẩn. Nhất là việc dự giờ, thao giảng và chấm thi GV dạy giỏi các cấp, những người có trách nhiệm (ban giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn các bộ môn, ban giám khảo các hội thi) thường vin vào CKTKN như một “tài liệu cố hữu” và bất cứ hoạt động nào của GV, của trò đều được nhìn từ đó để đánh giá. Chính điều này đã dẫn đến những tình huống dở khóc, dở cười. GV rất hào hứng, HS học tập chăm chú và sôi nổi nhưng họ thường bị đánh giá tiết dạy không đạt vì vượt chuẩn kiến thức, khó hiểu và không phù hợp với năng lực HS. Điều này gây ra những hệ lụy rất tai hại. 

Không những vậy, hiện nay dường như mỗi bài lại được giới hạn trong một thời gian chuẩn là 1 tiết (45 phút). Nếu dạy một đơn vị bài học mà vượt quá thời gian cho phép từ 3 đến 5 phút, coi như tiết dạy đó không đạt yêu cầu. Chuẩn kiến thức đã khó (vì thực ra kiến thức thì có thể chuẩn với người này nhưng với người kia chưa hẳn đã đúng), lại đòi hỏi chuẩn cả thời gian sẽ thật khó cho GV đứng lớp vì đối tượng học sinh mỗi lớp, mỗi trường khác nhau.

Việc ra đề thi, đề kiểm tra ở các trường học cũng thường lấy chuẩn để làm căn cứ mang tính ép buộc. Điều này khiến việc ra đề gặp khó khăn trong việc phân loại HS. Kiến thức trong đề kiểm tra chỉ đơn thuần cơ bản theo chuẩn nên việc đánh giá HS thường bị đánh đồng và lý giải tại sao ở một số trường học, tỷ lệ HS khá giỏi lên tới 60, thậm chí là 70%. Nhưng thực tế, những HS xuất sắc thật sự ở những trường đó lại ít hơn. 

Chính những tồn tại trong thực tiễn dạy học như thế đã gây ra nhiều hệ lụy. Nhất là nó đã lấy đi các ý tưởng, khả năng sáng tạo của người dạy. GV không dám mạnh dạn trong việc thể hiện ý tưởng khi đứng lớp bởi sợ “rớt chuẩn”, “vượt chuẩn”. Nên khi tham dự cuộc thi nào đó hoặc dự giờ thao giảng ở trường, GV thường cố gắng gói gọn kiến thức trong một khuôn khổ nhất định. GV cố gắng dạy thử vài ba tiết để khi được dự giờ thao giảng chỉ đơn thuần là diễn theo giáo án thuộc sẵn mà thôi. Chứ ít GV nào mạnh dạn đào sâu, tìm tòi thêm cho HS. Điều đó đã tạo ra sức ỳ, sự chậm chạp đối với GV khi phải chạy và dạy theo chuẩn. Theo ý kiến trao đổi của nhiều GV, chẳng ai dại gì mà “vượt chuẩn” cho mệt, cứ chuẩn là đạt, là giỏi rồi. Chính tâm lý ấy khiến những tiết học trên lớp của GV trở nên khô cứng, thiếu sức hấp dẫn HS.

Thay đổi vòng luẩn quẩn

Thực tế đó đã kéo dài nhiều năm nay nhưng dường như chúng ta chưa nhận ra và năm nào cũng lặp lại tình trạng này. GV không dám kêu, vì kêu cũng không thay đổi được gì. Mà cũng chính vì GV không kêu nên cấp quản lý cũng nghĩ mọi việc đều tốt nên không cần thay đổi nữa. Và cái vòng luẩn quẩn ấy đã biến GV thành người chỉ biết dạy theo chuẩn. Thầy không vượt được chuẩn nên trò cũng chẳng thấy được cái thú vị khi ngồi học. Vì hầu hết những thứ chuẩn khi thầy dạy thì các em đã đọc, tìm hiểu trên mạng, trên sách vở rồi.

Thiết nghĩ, bất cứ việc gì ở đời cũng cần có chuẩn mực. Trong giáo dục cũng thế không là ngoại lệ. Tuy nhiên, việc biên soạn sách CKTKN như hiện nay vô hình trung trở thành pháp lệnh ở trường học và trở thành rào cản lớn đối với sự sáng tạo của cả GV đứng lớp, của HS. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục trong thời kỳ hội nhập.

GV thường nói với nhau: “Cái đúng hôm qua, nhưng chưa hẳn còn giá trị cho ngày hôm nay”. Nên chăng, hãy để cho GV được thoát khỏi những quy định CKTKN như hiện nay để họ mang lại những điều mới mẻ cho HS trong mỗi tiết dạy.

Lê Sĩ Đông